Building a culture of saving among students at the University of Finance and Marketing in accordance with Ho Chi Minh’s ideology
ThS. Hoàng Thị Mỹ Nhân
Trường Đại học Tài chính – Marketing
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ một số nội dung cơ bản trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa tiết kiệm; trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng thực hiện văn hóa tiết kiệm của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing trong thời gian qua; đề xuất các giải pháp xây dựng văn hóa tiết kiệm của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing hiện nay.
Từ khóa: Tiết kiệm, sinh viên, tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính – Marketing.
Abstract: This article clarifies the basic elements of Ho Chi Minh’s thought on building a culture of thrift; based on that, it assesses the current state of implementing a culture of thrift among students of the University of Finance – Marketing in recent times; and proposes solutions for building a culture of thrift among students of the University of Finance – Marketing today.
Keywords: Saving, Students, Ho Chi Minh Thought, University of Finance – Marketing.
1. Đặt vấn đề
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm là một chuẩn mực đạo đức quan trọng, đồng thời là yếu tố then chốt trong xây dựng con người mới và phát triển kinh tế – xã hội. Người đã chỉ rõ tiết kiệm không chỉ là phương tiện để tích lũy của cải mà còn là cách rèn luyện ý thức tự chủ, kỷ luật, trách nhiệm với cộng đồng và đất nước. Kế thừa, vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng văn hóa tiết kiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị, địa phương; lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm những quy định của Đảng, Nhà nước về thực hành tiết kiệm.
Trường Đại học Tài chính – Marketing là môi trường đào tạo các chuyên ngành kinh tế, tài chính, quản trị và marketing, nơi sinh viên thường xuyên tiếp cận các kiến thức về quản lý tài chính, marketing và thương mại điện tử. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng văn hóa tiết kiệm tại Trường Đại học Tài chính – Marketing không chỉ giúp sinh viên quản lý tốt nguồn lực cá nhân mà còn tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để hình thành môi trường học tập hiệu quả, bền vững và phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm
Khái niệm tiết kiệm theo Hồ Chí Minh được trình bày tập trung trong các tác phẩm và bài viết như “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” (1949), “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952), cùng nhiều bài nói, bài viết khác trong thời kỳ kháng chiến và kiến quốc. Ở đó, Người không chỉ giải thích nội hàm của “Kiệm” mà còn đặt nó trong chỉnh thể tư tưởng về xây dựng đạo đức cách mạng và quản lý nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: Kiệm “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”1. Theo cách hiểu này, “tiết kiệm không phải là bủn xỉn”2, không đồng nghĩa với hà tiện, keo kiệt mà là sử dụng hợp lý, có kế hoạch và hiệu quả sức lao động, thời gian và tiền của của dân, của nước và của bản thân. Người nhấn mạnh rằng của cải xã hội là kết quả của mồ hôi, công sức của nhân dân lao động, vì vậy mọi sự chi tiêu lãng phí đều là biểu hiện thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng. Như vậy, tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao hàm cả yếu tố kinh tế và yếu tố đạo đức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tiết kiệm trong mối quan hệ biện chứng với “Cần”. Theo Người, “Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người”3 vì nếu chỉ cần cù lao động mà không tiết kiệm thì thành quả lao động sẽ bị tiêu hao; ngược lại, nếu chỉ tiết kiệm mà không sản xuất thì không thể làm cho của cải xã hội tăng lên. Quan niệm này cho thấy, tiết kiệm không phải là sự co hẹp chi tiêu một cách thụ động mà là một bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội mở rộng, góp phần tạo ra tích lũy cho phát triển lâu dài. Tiết kiệm được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận như một nguyên tắc quản trị quốc gia và một yêu cầu chính trị trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định “tiết kiệm là quốc sách”, coi đây là phương châm hành động của toàn Đảng, toàn dân trong điều kiện đất nước còn nghèo và phải huy động tối đa nội lực để phát triển. Vì vậy, khái niệm tiết kiệm trong tư tưởng của Người không chỉ giới hạn trong phạm vi cá nhân mà mở rộng ra toàn xã hội, bao gồm tiết kiệm trong sản xuất, trong quản lý tài chính công và trong đời sống hằng ngày của cán bộ, đảng viên.
Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, tiết kiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng cả về phương diện đạo đức, kinh tế và chính trị. Người không chỉ xem tiết kiệm là một chuẩn mực hành vi cá nhân mà còn là động lực nội sinh của sự phát triển quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải một cách hệ thống vai trò của tiết kiệm trong xây dựng con người mới, củng cố bộ máy nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội.
Tiết kiệm giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành và hoàn thiện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Kiệm” là một trong năm phẩm chất cấu thành chuẩn mực “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”. Nếu thiếu “Kiệm”, con người dễ sa vào xa hoa, hưởng thụ, từ đó dẫn đến suy thoái đạo đức và tha hóa quyền lực. Do đó, tiết kiệm không chỉ giúp điều chỉnh hành vi tiêu dùng mà còn có chức năng phòng ngừa những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Tiết kiệm giữ vai trò then chốt trong phát triển kinh tế và tích lũy nguồn lực cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu, vốn ít, cơ sở vật chất yếu kém, muốn phát triển phải đồng thời “tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm”. Tiết kiệm giúp bảo toàn và tích lũy của cải xã hội, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển công nghiệp, nông nghiệp, giáo dục, y tế và quốc phòng. Như vậy, vai trò của tiết kiệm không chỉ giới hạn ở việc giảm chi tiêu mà còn là phương thức tạo lập nền tảng vật chất cho sự phát triển lâu dài của quốc gia. “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”4.
Tiết kiệm có vai trò quan trọng trong quản trị quốc gia và phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các hiện tượng này là “giặc nội xâm”, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Trong bối cảnh đó, thực hành tiết kiệm trở thành một công cụ chính trị – pháp lý nhằm bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý tài sản công.
Thứ tư, tiết kiệm còn có vai trò xã hội sâu rộng khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là trách nhiệm của toàn dân và là phong trào quần chúng. Người cho rằng, mọi tầng lớp nhân dân đều phải tham gia thực hành tiết kiệm, coi đó là biểu hiện của tinh thần yêu nước và ý thức làm chủ đất nước. Khi tiết kiệm trở thành thói quen và giá trị chung của xã hội, sẽ góp phần hình thành văn hóa tiêu dùng lành mạnh, đề cao trách nhiệm cộng đồng và bảo đảm sự phát triển bền vững.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm không bị giới hạn trong một phạm vi hẹp mà được triển khai trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, từ sản xuất, quản lý nhà nước đến sinh hoạt cá nhân. Sự phân định các lĩnh vực cần tiết kiệm cho thấy cách tiếp cận toàn diện của Người, trong đó tiết kiệm được xem như một nguyên tắc tổ chức xã hội và một phương thức phát triển bền vững.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh tiết kiệm trong lĩnh vực sản xuất và lao động. Theo Người, muốn xây dựng đất nước giàu mạnh phải tăng gia sản xuất, đồng thời phải tiết kiệm sức lao động, thời gian và nguyên vật liệu. Người chỉ rõ, lãng phí trong sản xuất – từ việc sử dụng máy móc không hợp lý, hao hụt nguyên liệu đến tổ chức lao động thiếu khoa học – đều làm giảm hiệu quả kinh tế và cản trở sự phát triển. Do đó, tiết kiệm trong sản xuất không chỉ là giảm chi phí mà còn là nâng cao năng suất lao động và tối ưu hóa nguồn lực xã hội. “Chúng ta phải tiết kiệm sức lao động. Thí dụ: Việc gì trước kia phải dùng 10 người, nay ta phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất của mỗi người, nhờ vậy mà chỉ dùng 5 người cũng làm được”5; “Chúng ta phải tiết kiệm thời giờ. Việc gì trước kia phải làm 2 ngày, nay vì tổ chức sắp xếp khéo, năng suất cao, ta có thể làm xong trong 1 ngày”6.
Trong lĩnh vực quản lý tài chính công và điều hành bộ máy nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tiết kiệm là một nguyên tắc bắt buộc. Người phê phán các biểu hiện phô trương, hình thức, tổ chức hội họp, lễ nghi rườm rà gây tốn kém ngân sách, đồng thời yêu cầu mọi khoản chi tiêu phải đúng mục đích, đúng chế độ và có hiệu quả thiết thực. Tiết kiệm trong quản lý nhà nước gắn liền với nhiệm vụ chống tham ô, lãng phí và quan liêu những hiện tượng mà Người gọi là “giặc nội xâm”. Điều này cho thấy, tiết kiệm trong lĩnh vực công không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là vấn đề chính trị và đạo đức công vụ. “Chúng ta phải tiết kiệm tiền của. Việc gì trước phải dùng nhiều người, nhiều thời giờ, phải tốn 2 vạn đồng. Nay vì tiết kiệm được sức người và thời giờ, nguyên liệu cho nên chỉ tốn 1 vạn là đủ. Nói tóm lại, chúng ta phải tìm cách tổ chức sắp đặt cho hợp lý để 1 người có thể làm việc như 2 người, 1 ngày có thể làm việc của 2 ngày, 1 đồng có thể dùng bằng 2 đồng”7.
Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rõ ràng đến tiết kiệm trong đời sống cá nhân, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên. Người cho rằng, cán bộ phải nêu gương trong lối sống giản dị, khiêm tốn, không xa hoa, lãng phí; bởi của cải nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân đóng góp. Tiết kiệm trong sinh hoạt hằng ngày từ ăn, mặc, ở đến tổ chức các hoạt động cá nhân thể hiện ý thức trách nhiệm và tinh thần tôn trọng của công. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương điển hình về lối sống thanh bạch, giản dị, qua đó làm tăng sức thuyết phục của tư tưởng tiết kiệm.
Ngoài ra, Người còn mở rộng phạm vi tiết kiệm sang lĩnh vực sử dụng thời gian và nguồn lực tinh thần. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãng phí thời giờ, làm việc thiếu kế hoạch, thiếu kỷ luật cũng là một dạng lãng phí nghiêm trọng, bởi thời gian là một nguồn lực quý giá của xã hội. Quan niệm này thể hiện tầm nhìn hiện đại khi coi hiệu quả quản lý thời gian và tổ chức công việc là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. “Tiết kiệm nghĩa là: 1 giờ làm xong công việc của 2, 3 giờ. 1 người làm bằng 2, 3 người. 1 đồng dùng bằng giá trị 2, 3 đồng. Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt thì phải khéo tổ chức”8.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm không phải là yêu cầu giới hạn trong một nhóm xã hội nhất định mà là trách nhiệm phổ quát, đặt ra đối với nhiều chủ thể khác nhau trong đời sống chính trị, kinh tế – xã hội. Việc xác định rõ các đối tượng cần thực hành tiết kiệm cho thấy quan điểm nhất quán của Người: tiết kiệm là nguyên tắc tổ chức xã hội, đồng thời là chuẩn mực đạo đức chung của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp”10.
3. Văn hóa tiết kiệm của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing
Thời gian qua, Nhà trường đã quán triệt và làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cho sinh viên quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật Nhà nước về thực hành tiết kiệm, như: Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 21/12/2012 của Ban Bí thư (khóa XI) về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/01/2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Quốc hội, Chính phủ ban hành nhiều luật, nghị quyết, quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Quốc hội đã ban hành Luật số 44/2013/QH13 về Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 26/11/2013. Chính phủ ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 về việc ban hành Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025… Quán triệt các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, sinh viên và Nhà trường đã ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa tiết kiệm trong mọi hoạt động; đặt ra những yêu cầu cao cho bản thân trong quá trình học tập, rèn luyện, giải quyết các mối quan hệ xã hội.
Đặc biệt, sinh viên đã thể hiện ý thức về việc quản lý tài chính cá nhân và thực hành tiết kiệm trong học tập, sinh hoạt và đời sống hằng ngày. Nhiều sinh viên đã chủ động lập kế hoạch chi tiêu theo tháng, phân bổ hợp lý giữa các khoản học phí, ăn uống, sinh hoạt và các nhu cầu cá nhân, qua đó hạn chế lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính. Sinh viên biết tận dụng các tài liệu điện tử, học liệu trực tuyến và thư viện số để tiết kiệm chi phí học tập. Việc sử dụng các nguồn học liệu số không chỉ giảm chi phí mua sách in mà còn giúp sinh viên làm quen với phương thức học tập hiện đại, thân thiện với môi trường, đồng thời hình thành thói quen sống tiết kiệm, xanh. Sinh viên còn tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, quyên góp và các chương trình xã hội, thể hiện tinh thần tiết kiệm gắn với trách nhiệm cộng đồng; biết cân đối giữa nhu cầu cá nhân và các hoạt động chung; nhiều sinh viên đã hình thành xu hướng tiết kiệm trong mua sắm và tiêu dùng, đặc biệt nhờ tiếp cận các kiến thức về tài chính cá nhân, marketing và thương mại điện tử. Nhà trường đã triển khai các giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu chi phí giấy tờ và thủ tục hành chính, khuyến khích sinh viên sử dụng các nền tảng trực tuyến trong học tập và quản lý thông tin; từ đó góp phần hình thành văn hóa tiết kiệm bền vững trong cộng đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được trong việc xây dựng văn hóa tiết kiệm của sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing, còn một số hạn chế, như: nhận thức về tiết kiệm còn thấp, việc chuyển hóa nhận thức thành hành vi cụ thể trong đời sống hàng ngày chưa thực sự rõ nét và đồng đều. Một bộ phận sinh viên vẫn duy trì thói quen tiêu dùng theo phong trào, chú trọng hình thức và chạy theo xu hướng thị trường, dẫn đến chi tiêu không hợp lý. Những hành vi này thể hiện sự thiếu cân nhắc trong quản lý tài chính cá nhân và chưa phản ánh đầy đủ tinh thần tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh; kỹ năng lập kế hoạch và quản lý tài chính cá nhân của sinh viên còn hạn chế; chưa biết cách xây dựng ngân sách chi tiêu khoa học, chưa tính toán trước các khoản chi phí học tập, sinh hoạt và giải trí, dẫn đến tình trạng lãng phí hoặc thiếu hụt tài chính trong một số thời điểm. Một số sinh viên còn thiếu ý thức tiết kiệm trong sử dụng tài sản chung của nhà trường, như: phòng học, thư viện, trang thiết bị thực hành, điện, nước hay vật liệu học tập.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về văn hóa tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, tiết kiệm không chỉ là một hành vi kinh tế mà còn là một phẩm chất đạo đức quan trọng của mỗi người. Người khẳng định, tiết kiệm là “quốc sách”, là điều kiện để phát triển đất nước và nâng cao đời sống nhân dân. Đối với sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing, việc nhận thức đúng đắn về ý nghĩa của tiết kiệm có vai trò nền tảng trong việc hình thành văn hóa tiết kiệm bền vững. Nhà trường cần chú trọng lồng ghép nội dung giáo dục về tiết kiệm vào các môn học lý luận chính trị, đặc biệt là môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Thông qua việc phân tích sâu sắc các quan điểm của Người về “cần, kiệm, liêm, chính”, sinh viên sẽ hiểu rằng, tiết kiệm không đồng nghĩa với hà tiện mà là sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực vật chất và tinh thần. Tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo chuyên đề nhằm tạo diễn đàn trao đổi, thảo luận về vai trò của tiết kiệm trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tận dụng các nền tảng mạng xã hội, các kênh truyền thông nội bộ của nhà trường để lan tỏa thông điệp về tiết kiệm.
Thứ hai, xây dựng môi trường học đường thúc đẩy thực hành tiết kiệm.
Nhà trường cần phát động các phong trào thi đua gắn với nội dung tiết kiệm như: “Sinh viên tiết kiệm vì tương lai”, “Giảng đường xanh – không lãng phí”. Những phong trào này không chỉ mang tính hình thức mà còn cần được cụ thể hóa bằng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, như tiết kiệm điện, nước, hạn chế sử dụng tài liệu in ấn, tái sử dụng tài nguyên học tập. Đồng thời, cần xây dựng các mô hình lớp học tiết kiệm, trong đó mỗi sinh viên đều có trách nhiệm trong việc sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất của nhà trường. Sử dụng học liệu điện tử, bài giảng trực tuyến, hệ thống quản lý học tập giảm chi phí in ấn và nâng cao hiệu quả học tập. Nhà trường cũng cần có cơ chế khen thưởng, biểu dương kịp thời những cá nhân và tập thể thực hiện tốt việc tiết kiệm, từ đó tạo động lực lan tỏa trong toàn sinh viên.
Thứ ba, hình thành thói quen tiết kiệm trong đời sống cá nhân của sinh viên.
Sinh viên cần được trang bị kỹ năng quản lý tài chính cá nhân; lập kế hoạch chi tiêu hợp lý, phân bổ ngân sách cho các nhu cầu thiết yếu như: học tập, sinh hoạt, giải trí sẽ giúp sinh viên kiểm soát tốt nguồn tài chính của mình; tránh các hành vi tiêu dùng mang tính cảm tính, chạy theo xu hướng hoặc hình thức, đặc biệt trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh mẽ hiện nay. Hình thành thói quen tiết kiệm trong sử dụng tài nguyên như: điện, nước, thời gian và công sức.
Cần xây dựng lối sống giản dị, lành mạnh, phù hợp với điều kiện kinh tế của bản thân và gia đình một cách kiên trì, bền bỉ. Khi tiết kiệm trở thành một phần của lối sống, sinh viên sẽ hình thành được phẩm chất đạo đức tốt, góp phần hoàn thiện nhân cách và chuẩn bị hành trang cho tương lai. Đây là vấn đề rất quan trọng đối với sinh viên: nếu không xây dựng văn hóa tự giác trong thực hành tiết kiệm, rất khó có thể trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Các bộ phận, lực lượng của nhà trường cần đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm; đề cao tinh thần, trách nhiệm trong khai thác, sử dụng tài sản công ở nơi công cộng của nhà trường; ý thức sâu sắc hành động, việc làm của bản thân trong quá trình học tập, rèn luyện tại nhà trường; cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng và lên kế hoạch cụ thể cho từng công việc, nhiệm vụ và các mối quan hệ xã hội, bảo đảm hợp tình, hợp lý vừa bảo đảm sức khoẻ, vừa bảo đảm học tốt, rèn nghiêm, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển của dân tộc.
Thứ tư, gắn tiết kiệm với trách nhiệm xã hội và ứng dụng công nghệ.
Khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động tình nguyện, các chương trình hỗ trợ cộng đồng, như: quyên góp sách vở, quần áo, gây quỹ giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn. Những hoạt động này không chỉ thể hiện tinh thần “tiết kiệm để sẻ chia” mà còn góp phần giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội, tinh thần tương thân tương ái trong sinh viên. Sinh viên có thể sử dụng các ứng dụng quản lý tài chính cá nhân để theo dõi thu – chi, từ đó điều chỉnh hành vi tiêu dùng một cách hợp lý. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc kết hợp giữa tư tưởng tiết kiệm truyền thống với các công cụ công nghệ hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả thực hành tiết kiệm. Qua đó, sinh viên không chỉ tiết kiệm cho bản thân mà còn góp phần xây dựng một xã hội phát triển bền vững, văn minh và tiến bộ.
5. Kết luận
Xây dựng văn hóa tiết kiệm theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sinh viên Trường Đại học Tài chính – Marketing là một nhiệm vụ quan trọng nhằm giúp sinh viên hình thành lối sống lành mạnh, có trách nhiệm, biết quản lý tài chính cá nhân, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc thực hành tiết kiệm càng cần được mở rộng, từ tiết kiệm vật chất đến tiết kiệm thời gian, dữ liệu, năng lượng và tài nguyên số. Với sự đồng bộ giữa giáo dục lý luận, tổ chức hoạt động thực tiễn, tăng cường truyền thông và nêu gương, Trường Đại học Tài chính – Marketing có thể xây dựng thành công một môi trường học tập hiện đại và nhân văn, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Chú thích:
1, 3, 4, 8. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 122, 122, 128, 124.
2, 5, 6, 7, 9. Hồ Chí Minh toàn tập (2011). Tập 7. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 352, 352-353, 353, 353, 353.



