Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

(Quanlynhanuoc.vn) – Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức cách mạng. Tư tưởng về đạo đức của Người bao gồm những quan điểm cơ bản về vai trò, nội dung và những nguyên tắc trong xây dựng đạo đức mới, thể hiện qua các tác phẩm cô đọng và sâu sắc. Nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng không những là một đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng mà còn góp phần quan trọng trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

 

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc (Ảnh: tư liệu).

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng (ĐĐCM). Theo tư tưởng của Người, ĐĐCM mang bản chất giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ với truyền thống đạo đức dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại để đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927) đến bản Di chúc cuối cùng (hoàn chỉnh vào tháng 5/1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng. ĐĐCM trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính logic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Thứ nhất, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng. Khi bàn về vai trò quan trọng của đạo đức, Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức là yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội loài người và đối với cá nhân con người. Đối với người cách mạng, đạo đức có một vai trò vô cùng quan trọng, Người chỉ rõ: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân”1.

Với cán bộ, đảng viên (CBĐV), càng phải yêu cầu cao về đạo đức, bởi: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2.

Như vậy, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là phẩm chất đạo đức: “Đạo đức là gốc”, người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mới có thể trở thành người cán bộ chân chính, “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”3.

Trong bài “Đạo đức cách mạng” năm 1958, Hồ Chí Minh khái quát: “Nói tóm tắt thì đạo đức cách mạng là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”4.

Rõ ràng, đạo đức là động lực to lớn giúp người cách mạng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hiểm nguy. Nhận thức đúng đắn vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của đạo đức đối với người cách mạng cho nên ngay từ đầu cũng như trong suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm, coi trọng xây dựng đạo đức mới – ĐĐCM cho CBĐV và Nhân dân ta.

Thứ hai, ĐĐCM được thể hiện ở các phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Những phẩm chất đó có mối quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, thiếu một phẩm chất thì người CBĐV không thể làm tròn nhiệm vụ do Đảng, Nhân dân và cách mạng giao phó.

Vấn đề ĐĐCM và giáo dục ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới trong nhiều tác phẩm quan trọng. Trong thời kỳ mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, vào năm 1947, Người viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” và “Đời sống mới”. Sau đó, vào năm 1949, Người viết tác phẩm “Cần kiệm liêm chính” và “Dân vận”, nêu bật yêu cầu đạo đức trong tiêu chuẩn cán bộ. Hơn mười năm sau, kể từ khi viết “Sửa đổi lối làm việc” và “Đời sống mới”, vào năm 1958, Người viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng”.

Cho đến cuối đời, vào năm 1969, Người viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và “Di chúc”, lại một lần nữa, Người đặt lên hàng đầu ĐĐCM, theo đó, phải ra sức quét sạch “giặc nội xâm” là chủ nghĩa cá nhân – kẻ thù nguy hiểm nhất, ẩn nấp trong lòng mỗi người. Người đã đi sâu, cụ thể hóa các tiêu chuẩn về ĐĐCM, đó là:

(1) Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân: đây là phẩm chất, chuẩn mực có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của người cách mạng, là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá đạo đức của con người, của mỗi chiến sỹ cách mạng. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”5.

“Trung với nước”, “hiếu với dân” được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng ĐĐCM của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và Nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, phải đặt lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết và quyết tâm đấu tranh cho sự phồn vinh của đất nước, đem lại ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Do đó, theo Hồ Chí Minh, “trung với nước” cũng là “trung với Đảng”, trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc do Đảng lãnh đạo, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

“Hiếu với dân” – theo Hồ Chí Minh là phải tôn trọng, yêu kính Nhân dân, gắn bó máu thịt với Nhân dân, khẳng định sức mạnh to lớn của Nhân dân và phải coi dân là gốc, nền tảng của sự nghiệp cách mạng. Vì “dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân phải gắn liền với nước, dân là chủ của đất nước, dân có quyền quyết định vận mệnh quốc gia, “bao nhiêu quyền hành, lực lượng đều thuộc về dân”. Vì vậy, hiếu với dân là phải một lòng, một dạ “phụng sự Nhân dân. Nghĩa là làm đầy tớ cho dân”6. Ở Người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

(2) Yêu thương con người: nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với Nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hằng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với người khác.

Người từng dạy: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”7. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

Bác Hồ với bà con Cao Bằng (Ảnh: tư liệu).

(3) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: có thể nói đây chính là phẩm chất trung tâm của ĐĐCM trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh. Người chỉ rõ: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”8.

Theo Hồ Chí Minh, “cần” là phải lao động cần cù, siêng năng, sáng tạo, năng suất, hiệu quả cao, không lười biếng; “kiệm” là phải tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tài sản, tiền bạc của dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, phô trương, hình thức…; “liêm” là phải luôn tôn trọng giữ gìn của công, không tham địa vị, tiền tài, danh vọng…; “chính” là không tà, thẳng thắn, đúng đắn, chân thành, khiêm tốn, không tự cao, tự đại, không dối trá, lừa lọc; việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh. Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo trình độ văn minh, tiến bộ của một dân tộc. Theo Người: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”9.

“Chí công vô tư” là đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của Tổ quốc và của Nhân dân lên trên lợi ích của bản thân; lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Cho nên, thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao ĐĐCM. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người vẫn căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”10.

Như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư có mối quan hệ mật thiết, khăng khít với nhau, tạo nên sự thống nhất trong phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Đây là phẩm chất được Người đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Về thực chất, chí công vô tư là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người cho rằng những CBĐV có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách.

(4) Tinh thần quốc tế trong sáng: tinh thần quốc tế trong sáng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, là một phẩm chất quan trọng trong tư tưởng đạo đức của Người. Hồ Chí Minh coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên theo Người: “Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí, thì sung sướng cực khổ phải có nhau”11. Đó là cơ sở bền vững để xây dựng tình cảm cách mạng trong sáng, thuỷ chung giữa các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, vì nền độc lập của mỗi quốc gia dân tộc và quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người.

Tinh thần quốc tế trong sáng phải được thể hiện trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, gắn mục tiêu cách mạng của mỗi nước với mục tiêu chung của thời đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhận thức rõ điều đó nên trong quá trình tìm đường cứu nước cũng như sau này trở thành lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục chủ nghĩa quốc tế vô sản cho Nhân dân ta. Người nhắc nhở: “Tinh thần yêu nước chân chính khác với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”12. Có thể nói, từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện ĐĐCM cho CBĐV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng đội ngũ CBĐV và công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay. Dưới tác động của nhiều yếu tố: sự cám dỗ của lợi ích vật chất, mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, sự kiểm tra, giám sát của tổ chức chưa chặt chẽ, việc tự rèn luyện kém… làm cho một bộ phận không nhỏ CBĐV, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”13.

Chính vì vậy, việc rèn luyện ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV càng cần được coi trọng hơn bao giờ hết, nhất là khi chúng ta đang đứng trước thềm Đại hội XIII của Đảng. Để việc rèn luyện phẩm chất ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV theo tư tưởng Hồ Chí Minh có hiệu quả thiết thực, cần chú trọng một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBĐV về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐCM. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Trong đó, tập trung xây dựng ĐĐCM cho CBĐV: tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên hết; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, thật sự là công bộc của Nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội. Mỗi CBĐV cần nhận thức rõ, ĐĐCM sẽ tạo cơ sở vững chắc để người cán bộ giữ vững phẩm cách của mình trước mọi cám dỗ tầm thường, giúp người cán bộ hình thành và củng cố phương pháp, tác phong làm việc khoa học, nâng cao chất lượng công việc đảm nhiệm.

Hai là, mỗi CBĐV cần không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”14. Do đó, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi CBĐV vừa phải tích cực, thường xuyên, liên tục, đồng thời phải được gắn liền với mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người trên cương vị, chức trách được giao.

Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp và người đứng đầu trong việc tu dưỡng, rèn luyện ĐĐCM cho đội ngũ CBĐV. Cấp ủy đảng và người đứng đầu phải luôn quán triệt và thực hiện tốt việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ CBĐV ở mọi nơi, mọi lúc, mọi công việc và trong các mối quan hệ. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, thẳng thắn chỉ rõ khuyết điểm, đề cao tinh thần “tự soi”, “tự sửa” trong mỗi CBĐV và tổ chức đảng. Cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, đảng viên làm gương trước quần chúng.

Tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), Đảng ta đã ban hành Quy định về trách nhiệm nêu gương của CBĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018), trong đó yêu cầu CBĐV, nhất là người đứng đầu phải “không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”.

Như vậy, xây dựng đội ngũ CBĐV có lập trường, quan điểm vững vàng; luôn gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, phát huy tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực công tác, phong cách lãnh đạo, sâu sát quần chúng, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân là vô cùng cần thiết. Chú trọng rèn luyện cho cán bộ tinh thần chủ động khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của CBĐV với tổ chức đảng và với Nhân dân, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới để mỗi CBĐV lấy đó làm tiêu chí tự giác phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện theo chuẩn mực ĐĐCM. Hằng năm, người đứng đầu và từng CBĐV có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII).

Bốn là, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho đội ngũ CBĐV, giúp họ vươn lên chiếm lĩnh tri thức, làm chủ khoa học công nghệ, vững vàng chuyên môn nghiệp vụ. Trong một xã hội vận động và biến đổi nhanh chóng, đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu, đòi hỏi rất cao về năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh chính trị đối với mỗi người CBĐV, công chức, viên chức. Do vậy, để tránh tụt hậu, đáp ứng được yêu cầu của công việc, tiến tới có đủ năng lực làm việc được trong môi trường quốc tế, mỗi người cần có tinh thần cầu thị, không ngừng cố gắng, nỗ lực học tập, rèn luyện để tự hoàn thiện bản thân. Có như vậy, chúng ta mới xây dựng được một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Chú thích:
1, 8. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia, 2002, tr. 252 – 253, 631.
2, 4, 14. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia, 2002, tr. 283, 285, 293.
3, 5. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 9. H. NXB Chính trị quốc gia, 2011, tr. 354, 354.
6, 12. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia, 2002, tr. 88, 172.
7. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12. H. NXB Chính trị quốc gia, 2002, tr. 558.
8. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 6. H. NXB Chính trị quốc gia, 2011, tr. 128.
9. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 15. H. NXB Chính trị quốc gia, 2011, tr. 622.|
10. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 2. H. NXB Chính trị quốc gia, 2002, tr. 301.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 185.

PGS.TS. Nguyễn Cúc
Học viện Chính trị khu vực I